ĐIỂM THƠ KỲ NỘI SAN 79
Trong phần điểm thơ kỳ này bắt đầu với bài NGÓNG BẠN TRI ÂM của Xuân Khôi. Đây là bài
thơ Đường luật vốn bị khống chế nghiêm ngặt về câu từ vậy mà tác giả đã đưa
được khá nhiều hình ảnh vào thơ để bày tỏ nỗi niềm nhung nhớ với tri âm.
“Cánh
nhạn chân trời mòn mỏi đợi
Con thuyền góc biển ngẩn ngơ trông”
Bên cạnh những bài
Đường luật, nội san cũng không thiếu những bài lục bát, ngắn gọn mà chất thơ
làm xao động lòng người ví như bài RA VỀ của Trần Phao:
“Chùa
Hương tiễn khách đa tình
Ngả đầu bậc đá nghiêng mình hàng cây
Hương trầm thoang thoảng hơi may
Đò xuôi Suối Yến chở đầy ý thơ…
Cây, đá cũng lung linh huyền ảo, hóa thân vào đời thực, hóa thân
vào thơ và vì thế lẽ nào “Đò xuôi Suối Yến
chả chở đầy ý thơ”
Một bài thơ lục bát khác của Xuân Ngọc NỖI NHỚ MÙA HÈ càng chứa
chất đầy tâm sự. Cái mùa hè trong thơ chính là một khoảng đời đầy kỷ niệm và
cái mất đi làm ta đau muốn hét lên:
“Phải chi đừng gặp người ơi
Phải chi thu đến sắc trời đừng xanh”.
Xuân Ngọc còn có một bài viết theo thể thơ Đường luật, bài NHỮNG
CON SÓNG với cặp câu kết:
“Trời đất đổi thay ngàn biến ảo
Mơ hồ đáy sóng ẩn huyền cơ”
Câu thơ như muốn nói
cho dù đời ta là gì đi nữa thì nơi đáy sóng (những lớp sóng ngầm) vẫn chứa chất
bao huyền bí cơ trời. Câu thơ như nhắc ta hãy làm quen với nó, chấp nhận nó và
vượt qua nó..
Trong nội san kỳ này
có khá nhiều các bài thơ tứ tuyệt, trong đó có bài ĐƯỜNG QUÊ của Xuân Nghiệp là
một trong những bài dùng nhiều hình ảnh gợi cảm. Dường như mỗi câu là mỗi trạng
thái tâm lý, một cảnh giới trong lòng tác giả, nên khi “Mây hồng lãng đãng” lúc “Sóng biếc êm đềm”; khi “Rừng trúc hương đưa” và cuối cùng lại
là “sương lạnh…sao nhòa” trên đường
quê ấy. Điều đáng nói là bao nhiêu cảnh đời dường vẫn như nguyên, chỉ có lòng
người ẩn chứa những nỗi niềm sâu kín khôn tỏ với người, khôn tỏ với đời…
Mảng thơ tự do kỳ này
cũng được nhiều tác giả sử dụng. Toàn bài có thể chưa trọn vẹn nhưng trong từng
câu, từng khổ, ý thơ dào dạt, phóng khoáng làm cho người đọc thoát ra khỏi
những suy tư vốn đã rất nặng nề đối với các cụ tuổi già, ví như khổ thơ cuối
bài VỀ TÂY BẮC của Nguyễn Đình Tự đã
viết:
“Chén
rượu chồng uống vợ say
Lập loè quanh nối thắng cố
Râm ran câu chuyện “Hỷ song”
Giao hoà đất trời Tây Bắc”
Một miền quê, một gia đình cứ chan hòa như thế, cứ vui sướng như
thế.. và rồi cả đất nước cũng mãi tươi vui hạnh phúc như thế.
Chúng ta cũng nhận ra
nét hài hước của tác giả Bùi Trác Trường qua thơ viết về người phụ nữ của mình.
Trong bài GIỎI THẬT ông nói về cái sự kiêng; kiêng ăn, kiêng làm và kiêng nhiều
thứ … với người sau phẫu thuật. Cái cách ông pha trò ấy là cách ông đặt câu hỏi
nửa như xác nhận, nửa như ngờ vực để tự trêu mình và rồi cùng cười với người
đọc về những gì… chẳng cần nói nữa cũng vẫn nhận ra.
Nội san 79 của CLB ta
phát hành trong tháng 6, cái tháng giữa mùa hạ nóng hơn bao mùa hạ đã qua đi.
Ai cũng nghĩ là nóng quá thật khó sống với cái nóng 38, 39 độ, thế mà MỪNG HẠ
của Nguyễn Khắc Lương lại tươi mát và đầy niềm vui. Trong khổ thơ thứ 3 với bốn
câu:
Mừng đây mùa hạ, đây mùa hạ
Phượng đỏ hồng tươi trước nắng vàng
Gió nam lướt nhẹ đùa hoa muộn
Đôi trẻ thì thầm: Đây Hạ sang .
Khó có thể nói gì hơn
là thêm chút vĩ thanh với câu lục bát của người điểm thơ:
Tưởng đâu hạ nắng cháy mình
Thế mà lại có cái tình gió nam
Trong nội san kỳ này
cũng có những bài thơ Đường luật lấy tứ là chính và không câu nệ về thực, luận
để rồi dồn tất cả vào hai câu kết. đó là bài NGÀY ẤY của Nguyễn Hội với hai câu
kết:
“Đường ra mặt trận mùa xuân ấy
Ai đợi bến Bình để tặng hoa”
Câu thơ như hỏi, như chờ
đợi và không cần có sự trả lời, bởi tác giả chỉ muốn nói về niềm lạc quan, tin
tưởng chiến thắng, nói về chất anh hùng ca của người ra trận trong những năm
tháng đó.
Trong nội san kỳ này
có những bài thơ luôn dùng thủ pháp đặt ra nhiều câu hỏi từ đó dẫn dắt để độc
giả tự kết luận như bài CÒN ĐÂU của Đinh Công Cường. Bài thơ có đến 3 câu hỏi “còn đâu”. Nhưng câu “Còn đâu luỹ tre” mới là cái gốc của sự
tiếc nuối cảnh quê đầy kỷ niệm xưa. Cho dù xã hội tiến lên, nhiều cái cũ mất đi
để cho cái mới hay hơn, tốt hơn thay thế. Nhưng trong mỗi chúng ta, mấy ai
không hoài niệm về một nơi nào đó ta đã sinh ra lớn lên chung sống với cha với
mẹ. Và nỗi nhớ tựa như tiếng ve ra rả suốt những mùa hè:
“Còn đây những tháng mùa hè
Chỉ nghe ra rả tiếng ve kêu hoài”
Và ta hiểu, tiếng ve
ấy sẽ không bao giờ tắt.
Nhà thơ nữ Trần Thị Yên
kỳ nay lại “ngỏ đôi điều” về chữ “yên” trong bài ĐÔI ĐIỀU VỚI THƠ khá dí
dỏm:
“Làm thơ chẳng để làm duyên
Chỉ mong chở chút bình yên sớm chiều
Tri âm đời chẳng có nhiều
Mượn trang giấy ngỏ đôi điều với thơ”.
Nếu làm thơ mà yên được thì còn nhiều người cố học làm thơ. Tuy
nhiên ta hiểu đã từ lâu rồi tác giả đã coi thơ là nơi trút bầu tâm sự và thơ
như là bạn đời vậy.
Trong nội san kỳ này không thể không nói đến Nguyễn Thị Huyền với
bài EM VỀ ĐÂT MŨI. Ngay khi mở đầu ta đã gặp những câu thơ:
“Trời xanh mây trắng Cà Mau!
Đước xanh
ngập mặn đắm sâu một đời”
Với cặp từ “đắm sâu” ta
như thấy một Cà Mau với bao ẩn chứa bên trong. Tiếp sau đó là phần thân bài với
bốn câu thơ
“Thương người gửi trọn tấm
lòng
Mênh mông sông nước một dòng nổi
trôi
Bên bờ ai hát à ơi!
Ru bềnh bồng gió… ru vời vợi
sông”.
Vẫn là những từ gợi cảm “bềnh
bồng, vời vợi” tưởng như ai đó đang ru gió, ru sông và chính là ru đất và
người Cà Mau kiên trung, bất khuất mãi đứng canh cho tổ quốc thân yêu.
Cũng như các kỳ nội
san trước, phần cuối dành cho xướng họa thơ Đường luật, Ban biên tập mong rằng đến một ngày nào đó
thơ Đường luật nhiều hơn và chiếm đa số trong nội san. Tuy nhiên cũng phải nói
rằng thơ Đường luật là không khó bởi niêm luật, vần đối mà khó ở chỗ làm thế
nào để bài thơ có được cái tứ thâm sâu mà ta vẫn quen nói đến đó là “ý tại ngôn
ngoại”
Phần xướng họa kỳ này được chọn là bài HÈ ĐẾN của Xuân Ngọc với bộ vần hè, ve, tre, về, me. Đa số các bài họa đã
giữ đúng bộ vần của bài xướng, về nội dung khá đa dạng, tuy nhiên khi gặp vần
me thường hay bị gượng. Những bài họa tốt nhất phải kể đến là bài HỐI HẢ NGÀY
HÈ của Trần Phao, bài MÙA QUYÊN GỌI của Nguyên Đào. Bài họa có nhiều sáng tạo
là bài HÈ ĐẾN của Nguyễn Xuân Nghiệp. Từng cặp câu như đan xen vào nhau, mỗi
câu ẩn chứa một ý tưởng một hình ảnh. Trong đề, trong thực đều vừa tả, vừa gợi.
Nếu như tiếng quyên đặc tả mùa hè song lại gợi ra một cái gì đó băn khoăn trong
từ “khắc khoải”. Phượng đỏ cũng đặc
tả mùa hè nhưng lại gợi ra một cái gì đó vương vấn dài lâu qua từ “mỏi”. Còn hai câu thực dường như tác
giả cũng vừa tả vừa cảm qua những hình ảnh đặc trưng: Nếu như mây đó nương theo
nắng, gió đó níu vào tre là thế nhưng chỉ là hờ hững với mơ màng. Tưởng như mọi
thứ đang hiện hữu mà rồi có cũng như không bởi mọi cái thực đều đã xa rồi. Cho
đến hai câu luận thì mọi điều đều sáng tỏ. Ấy là Khi đến hồ xưa, hương còn rớt
lại, người đã đi rồi, khi qua ngõ cũ thơm còn vương lại người chẳng thấy đâu.
Và rồi hai câu kết như mở ra một trường rộng lớn gửi đến cho người đọc với
những cảm nhận vô hạn. Ai hiểu sao mờ suối cạn là còn là mất, là thực là hư thì
cứ hiểu. Chỉ có điều cần nhớ ấy là điểm sau cùng với canh tàn trăng lặn để rồi
tự mình dẫn dắt chính mình.
ĐIỂM THƠ KỲ NỘI SAN 83
Nội san Côn
Sơn 83 đã được ấn hành trong những ngày giông bão. Thời gian lại ngắn và việc
đi lại gặp những khó khắn đáng kể nên việc soát xét chưa hết dấn đến có nhiều
chỗ nhà hàng đánh sai không được sửa chữa. Cũng xin khảng định lại một lần nữa
là ban biên tập sẽ không sửa ngôn từ của các bài thơ, trừ trường hợp các tác
giả có ý kiến nhờ sửa chữa, nên mọi sai sót đều do ấn loát mà ra. Tuy nhiên Nội
san 83 cũng đã có bước chuyển khá tốt về chữ viết của các bản thơ gửi đến. Cũng
cần nhấn mạnh thêm về việc các tác giả cần cố gắng chép bài trên các khổ giấy
phổ thông và nên cắt xén vuông vức để thể hiện nét văn hóa vốn phải có của các
nhà thơ (cho dù là thơ xóm phố)
Trong năm vừa
qua nhiều lần ban biên tập đã đánh giá và nhận xét thơ của chúng ta sau mỗi kỳ
ấn hành. Cái hay và cái dẹp thường thì bao giờ cũng có tuy nhiên đó chỉ là từng
câu hay, ý hay được lựa ra trong từng bài. Nhưng để có những câu hay, ý hay nằm
trong cả một bài thơ hay thì còn quá ít. Đây cũng là khiếm khuyết chung của tất
cả chúng ta trong lúc làm thơ mà chưa chế ngự được bản thân, luôn để cho mạch
văn chương tuôn chảy tự do. Trong những tác phẩm lại nảy sinh nhiều góc cạnh
khác của tâm hồn đã từng ấp ủ lâu nay bật cả ra và rồi bỏ thì tiếc mà tham thì
như người mán bảo dài thêm mấy dao quăng nữa. Đó cũng chính là cái đã làm cho
tứ của các bài thơ không còn mạch lạc nữa, cho dù nhiều câu, nhiều từ rất
đắt…đắt hơn cả những nhà thơ chính hiệu.
Tuy nhiên một
vài Nội san gần đây đã có nhiều đổi mới, số bài thơ mà toàn bài hay đã nhiều
lên, đương nhiên là số câu thơ hay cũng nhiều lên trông thấy. Cũng do đó mà
phần đánh giá nội san hôm nay được đề cập đến hai phần rõ rệt. Phần đầu là nói
về các bài thơ hay và phần còn lại là những đoạn và những câu thơ hay của các
tác giả.
Trong Nội san 83 chúng ta có tất cả 49 tác
giả, đồng thời với số tác giả trên, là 147 bài thơ trong phần chính và 17 bài
thơ trong phần thơ dịch, thơ Đường xướng họa. Trong số các bài thơ được đánh
giá là có chủ đề và nội dung đặc sắc không nhiều nhưng lại có nhiều bài thơ khá
tốt trong toàn bài. Dưới đây chỉ xin nêu một vài bài để chúng ta cùng thưởng
thức và nếu có thể thì tiếp tục nghiên cứu và tham khảo.
Bài đầu tiên
được kể đến là bài Bóng cây bóng mẹ của Kim Cúc. Đây là bài thơ có nhiều gợi mở.
Ngay từ đề bài tác giả đã dẫn ta liên tưởng đến hình ảnh cây cao bóng cả vốn là
đặc trưng cho ông bà cha mẹ trong mỗi gia đình, những người đã sinh ra và dưỡng
nuôi ta thành người. Tuy nhiên cây ở đây vốn là kỷ vật cuối cùng mang dấu tay
mẹ, qua thơ cây đã hóa thân để rồi cây chính là mẹ trong con.
Bài thơ chứa
đựng nhiều hình ảnh hết sức gợi cảm ấy là dáng mẹ bước xăm xăm nói về sự
hối hả trong công việc, đó là hình ảnh cành lá bơ vơ trong sự cô đơn xa
vắng và cây đứng như giờ với sự thủy chung chờ con trong suốt những năm
qua. Cùng với các hình ảnh là các kỹ năng tu từ trong sử dụng cặp từ láy xăm
xăm và các cặp từ ghép bơ vơ, bồi hồi tạo nhịp điệu khi thì
hối hả, khi thì tha thiết với nhiều cung bậc tình cảm đan xen tràn ngập như
tình con với mẹ và tình mẹ với con. Đến khi con về mất mẹ và nỗi đau
chết lặng đi (với dấu chấm lửng) để rồi ngấm mãi vào bên trong nỗi xót
xa của sự mất mát không gì bù đắp nổi.
Bài thơ như
một khúc bi tráng viết về tình mẹ trong con và tình con trong mẹ, để lại trong
lòng người đọc nhiều rung cảm.
Bài thứ hai
muốn nói đến là bài Thăm mẹ. Đây là một bài thơ ngắn nói về mẹ của Nguyễn Văn Viên.
Bài thơ rành rẽ từng câu một với phương pháp thống kê liên tục, nhấn mạnh những
cảm nhận của con về mẹ với rất nhiều việc làm tốt đẹp và rất nhiều sự hy sinh
bản thân mẹ cho con cái.
Từ hình ảnh mẹ ngồi cặm cụi đến dáng gầy gánh nặng và sâu hơn nữa là những cảm nhận về mẹ với sự chắt chiu dành dụm, gian nan vất vả cả đời, cùng với
đắng cay mẹ nhận, ngọt bùi mẹ cho. Thậm chí vì con mà mẹ chịu trời vò quanh năm vv…Đặc biệt là trong phần cuối, tác giả có câu xe tơ kéo kén nhả tằm (đây là nói về một
vòng tằm theo chiều ngược lại). Dường như đó là sự sắp đặt muốn nói rõ hơn là
mỗi chúng ta óng vàng đẹp đẽ được sinh ra từ mẹ và những hy sinh vất vả của mẹ
quả là vô giá và cuối cùng là mẹ vĩ đại như thế nên chúng ta cứ muốn mãi mãi là
trẻ thơ bên mẹ. Bài thơ nói về thăm
mẹ sao mà đằm thắm và thiết tha.
Trong phần
nói về những đoạn thơ hay, câu thơ hay giờ đây đã tăng lên nhiều lắm. Dường như
mỗi tác giả, mỗi bài thơ đều có những đoạn thơ, những câu thơ không thua gì
những nhà thơ chuyên nghiệp. Trong một thời gian quá ngắn chắc sẽ không thể nói
hết được. Dưới đây chỉ xin điểm qua một số đoạn, một số câu để chúng ta cùng
thấy kết quả mà nhiều ngày nhiều tháng “đời tằm rút ruột nhả tơ”.
Những câu thơ hay bắt gặp đầu tiên đó là
hai cặp thực và kết trong bài Lỗi hẹn
của Đào Công Chín. Trong đó cặp thực với
Anh chờ vạt nắng rơi vàng hạ/
Em đợi vầng mây nhuộm tím đông.
Đó là nắng tươi vui rực rỡ cùng với ước mơ kết
đôi đẹp đẽ thỏa nguyện và sắc mây trời tím màu chung thủy khi đôi lứa vẫn còn
trong mộng tưởng.
Còn
với cặp kết:
Một lời lỗi hẹn sầu muôn thuở/
Đò vắng chiều tàn trắng bến sông
Ý thơ đã hoàn toàn đổi khác. Cùng với sự
lỗi hẹn là hình ảnh chiều tàn lụi và bến sông cũng trắng màu tang tóc của tình
yêu đã chết trong lòng.
Hay
là bài Ký ức của Nguyễn Xuân Nghiệp
cứ như cắt ra từng nét một mỗi thời gian, mỗi không gian gửi vào tâm sự để rồi
Xao xuyến vườn xưa trăng khuyết lạnh/
Bồi hồi bến cũ nước vơi đầy.
Vườn lạnh, cả trăng cũng lạnh và nước cũng phập
phồng thì lòng người hỏi sao không bồi hồi xao xuyến.
Để
nói về cái tình với thơ cụ Trần Phao đã phải thốt lên trong bài Nàng thơ:
Nghe tiếng gà trưa buồn khắc khoải/
Nhìn làn mây muộn nhớ vu vơ.
Nỗi nhớ cùng với sự mong đợi khéo để cho tiếng gà
trưa trở thành lạc lõng và nỗi buồn đến khó chịu khi cái điều ta mong chẳng
thấy còn đám mây muộn mằn kia bay đây, bay đó tựa như trêu cợt gợi thêm nỗi
phiền muộn trong lòng
Có
một bài thơ ngắn của người nhiều tuổi nhất nhì trong tổ lại hướng đến một nội
dung khá độc đáo trong cuộc sống đó là bài Quạ
chuột của cụ Nguyễn Bá Huyên. Với 6 câu lục bát:
Quạ nào quạ cũng bắt gà/
Chuột nào chuột cũng khoét nhà moi bao/
Xua quạ quạ lại bay cao/
Đuổi chuột chuột lại chui vào hang sâu/
Có trời có đất đỡ đầu/
Cho nên Quạ - Chuột đâu đâu
cũng nhiều.
Các câu thơ bình dị là thế nhưng đã chỉ mặt đặt
tên hai loài trộm cắp và đục khoét, đồng thời cũng kể rõ chúng chẳng sợ ai là
bởi chúng có quan thầy bợ đỡ.
Có một bài thơ mang
dáng dấp thơ của cả Nguyễn Bính và Hàn Mặc Tử đó là bài Đồng lúa quê nhà của Phan
Hộ:
Hôm nay có dịp về thăm đồng
Nắng vàng sóng lúa nặng trĩu bông
Nhà nhà vào vụ vui gặt hái
Vắng cô làng bảo "Cô sang
sông"
Vụ cấy năm nay vắng thiếu cô
Sóng nước buồn thiu gió hững hờ
Cô đã xuống đò về quê mới
Để đồng trống vắng nắng ngẩn
ngơ…
Một bài thơ ngắn nữa với đầu đề Mắt buồn của Nguyễn Xuân Cảnh:
Mắt em buồn
bởi vì ai?
Để lòng anh
cũng u hoài buồn theo/
Trời xuân
vương sợi nắng chiều/
Vắt ngang nối
nhớ cánh diều nghiêng chao/
Tâm tình chưa
kịp gởi trao/
Xa rồi Bạch
Hạc, sông Thao hỡi người.
Điều muốn nói ở đây là những hình, những ảnh hiện
lên lung linh và huyền ảo. Em là ai và anh là ai khiến nắng, khiến sông, khiến
diều và cả miền Bạch Hạc cùng với Sông Thao cũng dạt dào sống động. Bài thơ nói
về một miền quê mà tựa như nói với người thương vây.
Chỉ
là một bài thơ họa những cái thần thức của nó dường như là chính đề của tác giả
vậy. Bài thơ có các cặp đối thật đẹp và thật chỉnh. Đó là bài Lỗi hẹn của Bùi Viết Thinh
Anh thắp trong em ngọn lửa lòng
Ông tơ bà nguyệt chỉ se không
Trầu xanh ướm hỏi chờ đầu hạ
Cau biếc lời trao đợi cuối đông
Những tưởng thuyền tình về bến
đậu
Nào hay thác ngược chẳng theo
dòng
Non thề biển hứa duyên không bén
Đò cắm sào chờ thẹn với sông
Với cặp thực
Trầu xanh ướm hỏi chờ đầu hạ/
Cau biếc lời
trao đợi cuối đông
ta như thấy hai vế đối được sắp đặt vượt qua cái ngưỡng của
sự hoàn chỉnh. Tuy nhiên điều đáng nói là cặp kết được chắt ra hình ảnh về một
con đò không chuyển động để dòng sông cũng lặng lẽ theo
Để rồi ta như
thấy một nỗi buồn vô hạn
Nỗi buồn đến
độ như chết lặng đi trong tâm khảm, trong khung cảnh và trong thơ của người
trong cuộc. Buồn đến chết vì những gì mà nhân vật trong thơ đã mất mát…
ĐIỂM
THƠ CÔN SƠN 84
Hương thơ Côn
Sơn số 84 vừa phát hành đã có 50 tác giả tham gia. Trong đó có 120 tác phẩm, 12
tác phẩm thơ dịch và thơ Đường luật xướng họa. Bìa mầu với cảnh hồ Côn Sơn đã
khắc họa một hình ảnh đẹp của quê hương Chí Linh Bát cổ. Phần trình bày các
trang in khá đẹp và sáng sủa, nhất là các lỗi in ấn đã giảm nhiều. Nếu cứ duy
trì được phong độ này chắc hẳn là mọi người đều phấn khởi và chắc sẽ có nhiều
sáng tác hay hơn nữa.
Về phần nội dung đa số các tác phẩm đã có
chiều hướng vượt qua cái tôi ngày thường để đến với nhiều đề tài rộng mở hơn.
Tuy nhiên để có cái tôi hiện đại thật không phải dễ. Có lẽ cái tôi thường ngày
là quy luật chung của các nhóm thơ CLB với đặc trưng là muốn mở lòng cùng bè
bạn và cụ thể hơn là muốn thổ lộ vui buồn để mong có sự sẻ chia tình cảm để rồi
nhận được sự động viên của mọi người tự mình vui với những điều mình tâm đắc và
rồi cũng từ niềm vui ấy mà ta mạnh khỏe, trẻ trung như những ngày nào, để quỹ
thời gian cứ dài ra mãi.
Cũng như ước
muốn chia sẻ tình cảm trong thời hiện tại, một ước muốn khác nữa là sự hoài
niệm quá khứ, tìm lấy những gì là vinh quang tốt đẹp và cả tìm lấy những mất
mát đau buồn mà ta từng lưu luyến để rồi lòng ta đằm thắm hơn và nhân ái hơn
trong cuộc sống, trong cư xử với con cháu, với bạn bè đồng chí.
Ngoài những
chủ đích trên, các tác giả cũng đã hướng đến tầm cao nội dung và nghệ thuật,
nhất là đang có sự nảy nở, đi sâu vào một số thể loại thơ có quy cách chặt chẽ
cùng với chiều sâu ngôn từ và hình ảnh, thay cho những đoạn văn vần kể lể.
Nếu như Hương
thơ Côn Sơn số 83 còn có 60 % là văn vần dài lê thê thì Hương thơ Côn Sơn số 84
chỉ còn 30 % các bài như thế. Đây là một điều đáng mừng, tuy nhiên chủ đề của
nhiều bài còn rất sơ sài và thường trùng lặp. Điều này hoàn toàn là lẽ tự nhiên
không tránh khỏi của tất cả mọi người. Một điều cần nhấn mạnh thêm là đa số các
bài chỉ có từng đoạn, từng câu hay, số bài có nội dung nghệ thuật trọn vẹn vẫn
rất ít. Dưới đây xin điểm qua một số câu thơ và một số bài để chúng ta cùng
thưởng thức.
I. NHỮNG BÀI THƠ VÀ CÂU THƠ HAY
Trước hết xin
được điểm các bài thơ điển hình theo thứ tự nội san để các cụ tiện theo dõi.
Bài đầu tiên xin được điểm qua là bài Tình
thơ của Công Chín. Đây là một bài thơ họa theo thể Đường luật thất ngôn bát
cú. Đã là thơ họa thì đa số là có đôi chỗ gượng một chút vì phải bám vần của
bài xướng, tuy nhiên bài Tình thơ
khá thuần và suôn sẻ. Nhưng điều quan trọng muốn nói đến là phép đối trong 2
cặp câu thực và luận rất chỉnh với nhịp điệu 4/3 hay như đó là:
“Thêu vần lượm gió”
“Dệt tứ gom trăng”
Hoặc với cách
vận dụng nhịp điệu 2/5 (kéo dài phần sau) khảng định một tâm ý.
“Lòng không quên muối mặn”
“Dạ vẫn nhớ gừng cay”…
Đặc biệt hơn
là việc lắp ghép được 2 vế đối “gừng cay
/ muối mặn” của câu ca dao rất quen thuộc thành 2 vế đối của thơ Đường.
Phép đối, vận dụng được như thế này quả là tốt và dường như cũng còn rất hiếm
gặp được.
Phần tiếp
theo xin được nói về 2 bài lục bát của Lê Đình Tự. Bài thơ mượn trăng, mượn gió
để nói về người. Lời thơ chỉ là những câu hỏi dung dị nhưng lại gây cảm xúc.
Mới đọc thấy có dáng dấp của ca dao nhiều hơn, nhưng lại rất thơ. Tứ thơ khá
phong phú và biểu cảm ở nhiều chiều. Đặc biệt là hai câu cuối với tư tưởng
phóng khoáng mời nhau hết sức đẳm thắm, tha thiết vậy mà không dung tục vì sau
dấu chấm cảm là một khảng định hãy giữ cho nhau, hãy giữ cho luân lý của cả một
đời người. Cũng như bài thơ Hỏi gió, bài Hỏi mây cũng có mô tuýp
ấy cùng với kết cấu của 2 câu cuối giống nhau để khắc họa rằng đây là một tứ
thơ và đó chính là những bài thơ thực thụ.
Bài thơ Thu
buồn của Trần Phao là một điển hình của cách vận dụng đưa thơ Đường
luật vào mô phỏng hiện thực mang tính thời sự. Trái với nhiều tác giả chỉ toàn
những vần thơ yếm thế buồn buồn, chan chán, bài thơ mang đến cho ta một cảm xúc
thật cụ thể về một tai họa mà nhiều người, nhiều ngày qua muốn được chia sẻ.
Nhất là hai câu kết giúp mỗi chung ta có nhận thức về một việc gì đó cần làm và
chắc chắn rằng sự hưởng ứng sẽ là rất cao khi có một phong trào cần sự chia sẻ.
Đã
lâu lắm mới lại có bài thơ khen thơ đó là bài thơ Thơ cụ Vũ Bá Huyên của
Nguyễn Dương Quất. Cụ Quất đã khen rằng: “Khen
chê tế nhị vô cùng khéo”. Mà quả là khéo thật, bởi trong nội san đã có khá
nhiều bài của cụ Huyên ở dạng này mà chúng ta đã được đọc. Trước hết cần phải
định ba bài thơ của cụ Huyên là ba bài thơ Đường luật đúng với cả niêm luật và
cấu tứ. Đặc biệt là các hình tượng đặc tả chân thực như:
Bốn chân lớn khỏe lại vòi dài,
Mắt dữ tai to tướng mạo oai
Hoặc như:
Cánh khỏe bay xa khắp địa cầu,
Mắt tinh móng sắc mỏ vàng câu
Chân gầy mỏ nhọn mắt tinh nhanh vv…
Cùng
với những tác phong hành động chính xác như:
phá gỗ đều dùng cẳng,
bắc cầu chỉ lấy vai/
hay như:
nhào tha gáy, lượn móc hầu
moi thun thút, móc sạch sanh vv…
Từ những nét nghệ thuật cơ bản đó bài thơ trở nên sống động. Đặc
biệt là khá nhiều từ ngữ gợi cảm siêu việt mà mỗi bài đều bao hàm được sự điển
hình về chân thiện mỹ, đặc biệt là chữ thiện được nhấn mạnh rất cao.
Nếu như bài Con
voi nhắn nhủ rằng hỡi những kẻ to lớn mạnh khỏe, các ngươi đừng nghĩ
rằng ngươi là bất khả xâm phạm. Cứ nhìn như voi kia sợ kiến mà tự khuyên mình
bơn bớt hống hách đi.
Hay như bài Con
diều hâu thì cụ lại dặn rằng: Đừng cậy mình có lắm thủ đoạn ác hiểm
quen áp chế và giết hại kẻ khác mà rồi có ngày sẽ gặp người có sức mạnh hơn “nện vỡ đầu” đấy.
Còn bài thứ
ba thì lại đề cập đến thói quen của hai loài chim mà phân ra loài tốt và loài
xấu. Nếu tốt thì tốt ở chỗ nào, còn loài nào xấu và xấu ở chỗ nào. Tuy nhiên đó
chẳng qua là muốn nhắn nhủ rằng người đời chỉ ưa những người cần mẫn giúp ích
cho mọi người, còn thì chúa ghét những kẻ lưu manh chỉ vì cái ích lợi của mình,
cướp công người khác.
Bài Nhớ
thu của Nguyễn khắc Lương khá điển hình với sự tưởng tượng:
Chợt đâu gió động lay rèm,
Giật mình vội tưởng bước em lại nhà
Ngỡ rằng ta được gặp ta,
Có hương em bỗng hơi nhà ấm lên.
Gọi là nhớ thu mà hóa ra là nhớ người. Nỗi nhớ đã
vượt qua cả nỗi nhớ của Kiều và Kim Trọng. Bởi chỉ tưởng tượng ra thôi mà đã
thấy, đã nghe được tiếng bước chân và cả ngửi được mùi hương nữa. Nhớ nhau có
lẽ cũng đến thế là cùng…
Bài Nằm viện rút đinh của Nguyễn Văn Huy là
một bài thơ mang tính giãi bày là chính. Tuy nhiên chất thơ lại hiển hiện ở
tính hài hước rất trẻ cho dù cụ Huy khá nhiều tuổi.
Cụ hài hước nói về sự thấp thỏm lo lắng về cái
đinh nằm trong tay mình như một con vật đáng gớm cần phải được lấy
ra mới thực là hết bệnh:
Gần một năm đinh trong tay mình,
Lòng thấp thóm đã lo laị sợ”
Và rồi cả cười và thật thỏa mãn:
“Khỏi rồi ra viện lòng nhẹ tênh”.
Bài Trách
nhau của Nguyễn Thanh Lịch nói về Ngâu nhưng thực ra chỉ tựa vào ngâu
để tỏ lòng mình. Điều muốn tỏ ở đây là: Nhớ
nhau đứt ruột sùi da” mà vẫn phải nuốt nước mắt vào trong và rồi ngấm ngầm
đau mà so bì mà trách cái điều không đáng trách:
“Mỗi năm chỉ gặp một lần,
Ngàn năm được cả ngàn phần đó thôi
Thế là mãn nguyện lắm rồi,
Có người trần thế suốt đời còn không”.
Đấy mới là đau, đấy mới là thương nhớ…!
Người
xưa vẫn thường cảm từ tâm hồn ra cảnh: “Người
buồn cảnh có vui đâu bao giờ” và cũng lại cảm từ cảnh vào tới tâm hồn “Đôi khi cảnh cũng chiều người” và có lẽ
vì như thế nên Đò Mây của Nguyễn
Quang Thái mới có câu:
“Bao lần qua bến Đò Mây,
Nhớ người quê ở nơi này làm thơ”
Bài
thơ với thủ pháp ngôn ngữ cũng như nhiều bài thơ khác tuy nhiên bài thơ lại có
một trường rộng lớn đó là dòng sông, bến nước, con đò làm nền cho nó để rồi từ
đó ta có bao điều suy ngẫm. Đó chính là từ bến sông này có bao cuộc yêu cách
trở, từ bến sông này suốt một đời thương nhớ
Đến
với loạt bài thơ bốn câu của Nguyễn Xuân Cảnh ta lại gặp khá nhiều mảng tư
tưởng. Trong bài Tiếng mõ muốn khuyên người đã dám tìm đến với đạo
“Đã quen vừng béo, lạc bùi” thì nên bớt nghĩ về đời “Hãy quên
mơ mận, mía lùi ngày xưa”. Bởi nhân bản vốn dĩ hiện hữu rất khó để
vượt qua…
Đến
với loạt bài của Lương Bông ta nhận ra ngay Bão lòng của tác giả qua một loạt các câu thơ vừa khát khao lại vừa
đằm thắm. Dẫu chỉ là thống kê những bài thơ của bạn nhưng khó có thể không đồng
cảm đó là:
Kỷ niệm xưa vẫn hữu hình,
Như ngàn “hoa nắng” sân đình tuổi thơ
Tất niên thời khắc đợi chờ,
“Rượu còn chưa nhắp” đã lờ mờ say,
Lửa lòng ấp ủ bấy nay
“Khát” khao “rạo rực tim gầy” nơi em
và cuối cùng là:
“Biển Thịnh Long” vẫn dịu êm,
Phải lòng nhau bởi chưa quen bao giờ
Nghĩa là mới chỉ biết qua thơ mà đã say đến thế thì thật khó có
tình nào sánh nổi.
Lại
có thêm một bài thơ Đường luật tả tình của tác giả Bùi Viết Thinh Cung đàn lỡ nhịp. Đây là một bài thơ
khắc họa về thơ và bạn. Thức để làm thơ mà “mãi
chưa tìm được tứ thơ” thế rồi từ thơ sang nhớ bạn và có lẽ nhớ bạn mới là
chủ ý của của tác giả. Chả thế mà:
“Bâng khuâng nhớ bạn chân trời mộng,
Khắc khoải chờ ai góc biển mơ”.
II. NHỮNG CHỦ ĐỀ THỜI SỰ
Đây
là phần đặt tên do tác giả bài viết tự đặt ra do mảng thơ này gắn bó nhiều hơn
với các sự kiện có thể là của riêng từng tác giả cũng có thể nói về cái chung
nhưng rất rõ nét. Đặc điểm của các bài thơ này là thông qua những nội dung cụ thể
mà cảm nhận và lấy đó là mục tiêu sáng tác, gắn nó với ý nghĩa cụ thể qua đó
tác động đến độc giả thông qua bài học về chân và thiện.
Bài đầu tiên là sáng
tác của Đoàn Mạnh Linh với bài Có một
mùa thu. Đây là bài thơ viết về nỗi tiếc thương của nhân dân Việt Nam trước sự ra
đi của Bác Hồ qua các câu thơ:
“Ai nấy
mím môi đau nuốt lệ/
Đôi mi tràn ứa nước tuôn rơi”.
Mỗi câu thơ tựa như
thêm một lần nữa khắc họa những hình ảnh xúc động cho đến hôm nay vẫn như còn
nguyên cái không khí tang tóc đau thương ngày ấy.
Một bài thơ khác của
Vũ Ngọc Doanh Bài ca không quên lại
nhắc đến công lao của Đảng và thực sự hơn hết là sự hy sinh của những anh hùng
liệt sĩ cho dân tộc, cho non sông đất nước.
Cũng với đề tài nói
về thương binh liệt sĩ Nguyễn Văn Viên lại viết về một kỷ niệm yêu thương với
một nữ chiến sĩ qua bài Viếng liệt sĩ.
Bài thơ kể cả cái sự hò hẹn “Nguyện lòng
Vân bảo làm dâu Bắc” và có lẽ vì thế mà tác giả như muốn kêu lên cho vợi
nỗi đau “Thương quá em ơi – sớm mộ nằm”
Với Phan Hộ trong
bài Người con gái sông Lam thì dài
hơi hơn một chút để kể về sự hy sinh của người yêu trong khi cứu thuyền chở
thương binh. Cho dù là chuyện kể nhưng từng câu từng chữ đều khắc họa những nỗi
đau vô cùng vô hạn.
Nguyễn Duy Hồng với
bài Đón anh về cùng có chủ đề viết về
liệt sĩ. Bài viết nói về việc đưa hài cốt các liệt sĩ về làng và nỗi xúc động
của người thân, làng xóm “Anh em tràn
nước mắt vui, Họ hàng, làng xóm bùi ngùi đón anh”. Đặc biệt là những câu
thơ nói về sự khảng khái của những người chiến sĩ “Vì dân vì nước bước dồn, Máu xương hòa đất, tâm hồn vẹn nguyên”. Đồng
thời cũng khảng định sự hy sinh của
liệt sỹ là thiêng liêng cao cả và luôn được trân trọng “Các anh sống mãi tuổi xuân, Tri ân liệt sỹ nhớ ơn muôn đời”
Về đề tài thương binh liệt sĩ có khá nhiều trong nội san kỳ này đặc
biệt là bài thơ Biết ơn của cụ Vũ
Như Bão viết trong khi đi viếng Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn có nhiều nét rất
mới. Từ hình ảnh ngôi mộ thẳng hàng nằm đó được tác giả mô tả như sự trang
nghiêm của đội ngũ những người chiến sĩ sắp xông ra trận, sẵn sàng xông lên
giết giặc “Như trong đội ngũ nghiêm trang, Như trong thế đứng sẵn sàng xông lên”. Thêm một lần nữa khảng định mọi người sẽ không
bao giờ quên sự hy sinh của những người chiến sĩ “Ngàn năm dân tộc không quên, Anh hy sinh để khắc thiên sử vàng”
III. THƠ ĐƯỜNG LUẬT
Phần xướng họa thơ Đường luật kỳ này với bài xướng Trăng thu của Nguyễn Xuân Ngọc và 10
bài thơ họa của các tác giả trong CLB. Về bài xướng tác giả NXN đã lấy mùa thu
và ánh trăng làm chủ đề, đó là thu với “Hương
dẻ nồng nàn vàng gió núi, Trái hồng lúng liếng đỏ hiên nhà” còn có cả trăng
qua các câu từ “Trời trong vằng vặc ánh
trăng ngà” hay như “Chị Hằng ngơ ngẩn
xem quỳnh nở” thì cũng vẫn là trăng. Có điều lạ hơn cả là câu kết lại viết “Thi nhân sao nỡ bảo trăng già”. Thi
nhân hoặc có thể là bất kỳ một người nào đó trong cảnh ấy, trong không gian ấy
chỉ có một chữ già xuất hiện.
Cũng đã có lần trăng già xuất hiện trong mắt một thi sĩ đang say
và rồi cũng đã có với một câu kết “Trăng
già lọm khom qua ngang cửa, sao chẳng vào thăm để chén vơi”
Còn về các bài họa, các tác giả cũng đã có
nhiều cố gắng họa lại với nội dung khá phong phú. Trong mười bài họa người
viết cũng đã chọn trong sở thích với hai
bài đó là: bài Hương thu của Nguyên Đào và bài Ngắm trăng của Đào Công Chín. Đây là những bài xử lý khá tốt với
vần Ngà. Tuy đây không phải là một vần hiếm, nhưng văn cảnh ghép trăng với ngà
thì lại không có nhiều câu suôn sẻ.
Tuy nhiên cụ Nguyên Đào đã viết: “Heo may xào xạc ngọn tre ngà” còn Đào Công
Chín thì viết “Trăng soi mặt nước trắng
như ngà”. Những câu thơ hết sức
suôn sẻ không hề có sự gượng ép nào.
Các cặp
câu thực của hai bài thơ trên đều bám vào ý của bài xướng đó là gợi cảnh thu
qua cỏ cây hoa trái “Mấy đóa phù dung vờn
trước ngõ, Vài bông thiên lý rủ bên nhà” hoặc như “Hương bưởi nồng nàn vương trước ngõ
Hoa cau ngan
ngát tỏa quanh nhà”
Còn với
câu luận thì đều bám vào hình ảnh của trăng “Say
nhìn chú Cuội mơ tiên nữ
Mải ngắm chị
Hằng mộng Tố Nga” hoặc như “Muốn lên cung quế thăm chàng Cuội, Mong tới Quảng Hàn ngắm Tố Nga”. Với
câu cuối “Vườn xưa trở lại gốc mai già”
hoặc như “Mà sao xinh đẹp mãi không già”. Các tác giả trên cũng vẫn giữ được sự
suôn sẻ và vẫn không hề có chút gượng ép.
Riêng
phần nhận xét kỳ này cũng còn bỏ sót nhiều bài thơ hay và câu thơ hay chưa dẫn
ra được. Rất mong các các giả thông cảm vì khuôn khổ và khả năng có hạn của
người nhận xét. Rút kinh nghiệm tốt hơn trong kỳ tới.
TM. BAN BIÊN TẬP
Lê Trọng Hồng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét