Thứ Bảy, 28 tháng 6, 2014

ĐIỂM THƠ TRONG CÁC NỘI SAN

ĐIỂM THƠ KỲ NỘI SAN 79 


Trong phần điểm thơ kỳ này bắt đầu với bài NGÓNG BẠN TRI ÂM của Xuân Khôi. Đây là bài thơ Đường luật vốn bị khống chế nghiêm ngặt về câu từ vậy mà tác giả đã đưa được khá nhiều hình ảnh vào thơ để bày tỏ nỗi niềm nhung nhớ với tri âm. 

Cánh nhạn chân trời mòn mỏi đợi
Con thuyền góc biển ngẩn ngơ trông”

          Bên cạnh những bài Đường luật, nội san cũng không thiếu những bài lục bát, ngắn gọn mà chất thơ làm xao động lòng người ví như bài RA VỀ của Trần Phao:

Chùa Hương tiễn khách đa tình
Ngả đầu bậc đá nghiêng mình hàng cây
Hương trầm thoang thoảng hơi may
Đò xuôi Suối Yến chở đầy ý thơ…

Cây, đá cũng lung linh huyền ảo, hóa thân vào đời thực, hóa thân vào thơ và vì thế lẽ nào “Đò xuôi Suối Yến chả chở đầy ý thơ”
        Một bài thơ lục bát khác của Xuân Ngọc NỖI NHỚ MÙA HÈ càng chứa chất đầy tâm sự. Cái mùa hè trong thơ chính là một khoảng đời đầy kỷ niệm và cái mất đi làm ta đau muốn hét lên:

“Phải chi đừng gặp người ơi
Phải chi thu đến sắc trời đừng xanh”.

        Xuân Ngọc còn có một bài viết theo thể thơ Đường luật, bài NHỮNG CON SÓNG với cặp câu kết:

“Trời đất đổi thay ngàn biến ảo
Mơ hồ đáy sóng ẩn huyền cơ

        Câu thơ như muốn nói cho dù đời ta là gì đi nữa thì nơi đáy sóng (những lớp sóng ngầm) vẫn chứa chất bao huyền bí cơ trời. Câu thơ như nhắc ta hãy làm quen với nó, chấp nhận nó và vượt qua nó..
        Trong nội san kỳ này có khá nhiều các bài thơ tứ tuyệt, trong đó có bài ĐƯỜNG QUÊ của Xuân Nghiệp là một trong những bài dùng nhiều hình ảnh gợi cảm. Dường như mỗi câu là mỗi trạng thái tâm lý, một cảnh giới trong lòng tác giả, nên khi “Mây hồng lãng đãng” lúc  “Sóng biếc êm đềm”; khi “Rừng trúc hương đưa” và cuối cùng lại là “sương lạnh…sao nhòa” trên đường quê ấy. Điều đáng nói là bao nhiêu cảnh đời dường vẫn như nguyên, chỉ có lòng người ẩn chứa những nỗi niềm sâu kín khôn tỏ với người, khôn tỏ với đời…
        Mảng thơ tự do kỳ này cũng được nhiều tác giả sử dụng. Toàn bài có thể chưa trọn vẹn nhưng trong từng câu, từng khổ, ý thơ dào dạt, phóng khoáng làm cho người đọc thoát ra khỏi những suy tư vốn đã rất nặng nề đối với các cụ tuổi già, ví như khổ thơ cuối bài VỀ TÂY BẮC của Nguyễn Đình Tự  đã viết:

Chén rượu chồng uống vợ say
Lập loè quanh nối thắng cố
Râm ran câu chuyện “Hỷ song”
Giao hoà đất trời Tây Bắc”

        Một miền quê, một gia đình cứ chan hòa như thế, cứ vui sướng như thế.. và rồi cả đất nước cũng mãi tươi vui hạnh phúc như thế.
        Chúng ta cũng nhận ra nét hài hước của tác giả Bùi Trác Trường qua thơ viết về người phụ nữ của mình. Trong bài GIỎI THẬT ông nói về cái sự kiêng; kiêng ăn, kiêng làm và kiêng nhiều thứ … với người sau phẫu thuật. Cái cách ông pha trò ấy là cách ông đặt câu hỏi nửa như xác nhận, nửa như ngờ vực để tự trêu mình và rồi cùng cười với người đọc về những gì… chẳng cần nói nữa cũng vẫn nhận ra.
        Nội san 79 của CLB ta phát hành trong tháng 6, cái tháng giữa mùa hạ nóng hơn bao mùa hạ đã qua đi. Ai cũng nghĩ là nóng quá thật khó sống với cái nóng 38, 39 độ, thế mà MỪNG HẠ của Nguyễn Khắc Lương lại tươi mát và đầy niềm vui. Trong khổ thơ thứ 3 với bốn câu:

Mừng đây mùa hạ, đây mùa hạ
Phượng đỏ hồng tươi trước nắng vàng
Gió nam lướt nhẹ đùa hoa muộn
Đôi trẻ thì thầm: Đây Hạ sang .

        Khó có thể nói gì hơn là thêm chút vĩ thanh với câu lục bát của người điểm thơ:

Tưởng đâu hạ nắng cháy mình
Thế mà lại có cái tình gió nam

        Trong nội san kỳ này cũng có những bài thơ Đường luật lấy tứ là chính và không câu nệ về thực, luận để rồi dồn tất cả vào hai câu kết. đó là bài NGÀY ẤY của Nguyễn Hội với hai câu kết:

“Đường ra mặt trận mùa xuân ấy
Ai đợi bến Bình để tặng hoa”

        Câu thơ như hỏi, như chờ đợi và không cần có sự trả lời, bởi tác giả chỉ muốn nói về niềm lạc quan, tin tưởng chiến thắng, nói về chất anh hùng ca của người ra trận trong những năm tháng đó.
        Trong nội san kỳ này có những bài thơ luôn dùng thủ pháp đặt ra nhiều câu hỏi từ đó dẫn dắt để độc giả tự kết luận như bài CÒN ĐÂU của Đinh Công Cường. Bài thơ có đến 3 câu hỏi “còn đâu”. Nhưng câu “Còn đâu luỹ tre” mới là cái gốc của sự tiếc nuối cảnh quê đầy kỷ niệm xưa. Cho dù xã hội tiến lên, nhiều cái cũ mất đi để cho cái mới hay hơn, tốt hơn thay thế. Nhưng trong mỗi chúng ta, mấy ai không hoài niệm về một nơi nào đó ta đã sinh ra lớn lên chung sống với cha với mẹ. Và nỗi nhớ tựa như tiếng ve ra rả suốt những mùa hè:

“Còn đây những tháng mùa hè
Chỉ nghe ra rả tiếng ve kêu hoài”

        Và ta hiểu, tiếng ve ấy sẽ không bao giờ tắt.
       Nhà thơ nữ Trần Thị Yên kỳ nay lại “ngỏ đôi điều” về chữ “yên” trong bài ĐÔI ĐIỀU VỚI THƠ khá dí dỏm:

“Làm thơ chẳng để làm duyên
Chỉ mong chở chút bình yên sớm chiều
Tri âm đời chẳng có nhiều
Mượn trang giấy ngỏ đôi điều với thơ”.

       Nếu làm thơ mà yên được thì còn nhiều người cố học làm thơ. Tuy nhiên ta hiểu đã từ lâu rồi tác giả đã coi thơ là nơi trút bầu tâm sự và thơ như là bạn đời vậy.
Trong nội san kỳ này không thể không nói đến Nguyễn Thị Huyền với bài EM VỀ ĐÂT MŨI. Ngay khi mở đầu ta đã gặp những câu thơ:

                                      “Trời xanh mây trắng Cà Mau!
                                   Đước xanh ngập mặn đắm sâu một đời”

Với cặp từ “đắm sâu” ta như thấy một Cà Mau với bao ẩn chứa bên trong. Tiếp sau đó là phần thân bài với bốn câu thơ

                                        “Thương người gửi trọn tấm lòng
                                       Mênh mông sông nước một dòng nổi trôi
                                       Bên bờ ai hát à ơi!
                                       Ru bềnh bồng gió… ru vời vợi sông”.

Vẫn là những từ gợi cảm “bềnh bồng, vời vợi” tưởng như ai đó đang ru gió, ru sông và chính là ru đất và người Cà Mau kiên trung, bất khuất mãi đứng canh cho tổ quốc thân yêu.
          Cũng như các kỳ nội san trước, phần cuối dành cho xướng họa thơ Đường luật,  Ban biên tập mong rằng đến một ngày nào đó thơ Đường luật nhiều hơn và chiếm đa số trong nội san. Tuy nhiên cũng phải nói rằng thơ Đường luật là không khó bởi niêm luật, vần đối mà khó ở chỗ làm thế nào để bài thơ có được cái tứ thâm sâu mà ta vẫn quen nói đến đó là “ý tại ngôn ngoại”
         Phần xướng họa kỳ này được chọn là bài HÈ ĐẾN của Xuân Ngọc với bộ vần hè, ve, tre, về, me. Đa số các bài họa đã giữ đúng bộ vần của bài xướng, về nội dung khá đa dạng, tuy nhiên khi gặp vần me thường hay bị gượng. Những bài họa tốt nhất phải kể đến là bài HỐI HẢ NGÀY HÈ của Trần Phao, bài MÙA QUYÊN GỌI của Nguyên Đào. Bài họa có nhiều sáng tạo là bài HÈ ĐẾN của Nguyễn Xuân Nghiệp. Từng cặp câu như đan xen vào nhau, mỗi câu ẩn chứa một ý tưởng một hình ảnh. Trong đề, trong thực đều vừa tả, vừa gợi. Nếu như tiếng quyên đặc tả mùa hè song lại gợi ra một cái gì đó băn khoăn trong từ “khắc khoải”. Phượng đỏ cũng đặc tả mùa hè nhưng lại gợi ra một cái gì đó vương vấn dài lâu qua từ “mỏi”. Còn hai câu thực dường như tác giả cũng vừa tả vừa cảm qua những hình ảnh đặc trưng: Nếu như mây đó nương theo nắng, gió đó níu vào tre là thế nhưng chỉ là hờ hững với mơ màng. Tưởng như mọi thứ đang hiện hữu mà rồi có cũng như không bởi mọi cái thực đều đã xa rồi. Cho đến hai câu luận thì mọi điều đều sáng tỏ. Ấy là Khi đến hồ xưa, hương còn rớt lại, người đã đi rồi, khi qua ngõ cũ thơm còn vương lại người chẳng thấy đâu. Và rồi hai câu kết như mở ra một trường rộng lớn gửi đến cho người đọc với những cảm nhận vô hạn. Ai hiểu sao mờ suối cạn là còn là mất, là thực là hư thì cứ hiểu. Chỉ có điều cần nhớ ấy là điểm sau cùng với canh tàn trăng lặn để rồi tự mình dẫn dắt chính mình.  




ĐIỂM THƠ KỲ NỘI SAN 83 

Nội san Côn Sơn 83 đã được ấn hành trong những ngày giông bão. Thời gian lại ngắn và việc đi lại gặp những khó khắn đáng kể nên việc soát xét chưa hết dấn đến có nhiều chỗ nhà hàng đánh sai không được sửa chữa. Cũng xin khảng định lại một lần nữa là ban biên tập sẽ không sửa ngôn từ của các bài thơ, trừ trường hợp các tác giả có ý kiến nhờ sửa chữa, nên mọi sai sót đều do ấn loát mà ra. Tuy nhiên Nội san 83 cũng đã có bước chuyển khá tốt về chữ viết của các bản thơ gửi đến. Cũng cần nhấn mạnh thêm về việc các tác giả cần cố gắng chép bài trên các khổ giấy phổ thông và nên cắt xén vuông vức để thể hiện nét văn hóa vốn phải có của các nhà thơ (cho dù là thơ xóm phố)
Trong năm vừa qua nhiều lần ban biên tập đã đánh giá và nhận xét thơ của chúng ta sau mỗi kỳ ấn hành. Cái hay và cái dẹp thường thì bao giờ cũng có tuy nhiên đó chỉ là từng câu hay, ý hay được lựa ra trong từng bài. Nhưng để có những câu hay, ý hay nằm trong cả một bài thơ hay thì còn quá ít. Đây cũng là khiếm khuyết chung của tất cả chúng ta trong lúc làm thơ mà chưa chế ngự được bản thân, luôn để cho mạch văn chương tuôn chảy tự do. Trong những tác phẩm lại nảy sinh nhiều góc cạnh khác của tâm hồn đã từng ấp ủ lâu nay bật cả ra và rồi bỏ thì tiếc mà tham thì như người mán bảo dài thêm mấy dao quăng nữa. Đó cũng chính là cái đã làm cho tứ của các bài thơ không còn mạch lạc nữa, cho dù nhiều câu, nhiều từ rất đắt…đắt hơn cả những nhà thơ chính hiệu.
Tuy nhiên một vài Nội san gần đây đã có nhiều đổi mới, số bài thơ mà toàn bài hay đã nhiều lên, đương nhiên là số câu thơ hay cũng nhiều lên trông thấy. Cũng do đó mà phần đánh giá nội san hôm nay được đề cập đến hai phần rõ rệt. Phần đầu là nói về các bài thơ hay và phần còn lại là những đoạn và những câu thơ hay của các tác giả.
 Trong Nội san 83 chúng ta có tất cả 49 tác giả, đồng thời với số tác giả trên, là 147 bài thơ trong phần chính và 17 bài thơ trong phần thơ dịch, thơ Đường xướng họa. Trong số các bài thơ được đánh giá là có chủ đề và nội dung đặc sắc không nhiều nhưng lại có nhiều bài thơ khá tốt trong toàn bài. Dưới đây chỉ xin nêu một vài bài để chúng ta cùng thưởng thức và nếu có thể thì tiếp tục nghiên cứu và tham khảo.
Bài đầu tiên được kể đến là bài Bóng cây bóng mẹ của Kim Cúc. Đây là bài thơ có nhiều gợi mở. Ngay từ đề bài tác giả đã dẫn ta liên tưởng đến hình ảnh cây cao bóng cả vốn là đặc trưng cho ông bà cha mẹ trong mỗi gia đình, những người đã sinh ra và dưỡng nuôi ta thành người. Tuy nhiên cây ở đây vốn là kỷ vật cuối cùng mang dấu tay mẹ, qua thơ cây đã hóa thân để rồi cây chính là mẹ trong con.
Bài thơ chứa đựng nhiều hình ảnh hết sức gợi cảm ấy là dáng mẹ bước xăm xăm nói về sự hối hả trong công việc, đó là hình ảnh cành lá bơ vơ trong sự cô đơn xa vắng và cây đứng như giờ với sự thủy chung chờ con trong suốt những năm qua. Cùng với các hình ảnh là các kỹ năng tu từ trong sử dụng cặp từ láy xăm xăm và các cặp từ ghép bơ vơ, bồi hồi tạo nhịp điệu khi thì hối hả, khi thì tha thiết với nhiều cung bậc tình cảm đan xen tràn ngập như tình con với mẹ và tình mẹ với con. Đến khi con về mất mẹ và nỗi đau chết lặng đi (với dấu chấm lửng) để rồi ngấm mãi vào bên trong nỗi xót xa của sự mất mát không gì bù đắp nổi.
Bài thơ như một khúc bi tráng viết về tình mẹ trong con và tình con trong mẹ, để lại trong lòng người đọc nhiều rung cảm.
Bài thứ hai muốn nói đến là bài Thăm mẹ. Đây là một bài thơ ngắn nói về mẹ của Nguyễn Văn Viên. Bài thơ rành rẽ từng câu một với phương pháp thống kê liên tục, nhấn mạnh những cảm nhận của con về mẹ với rất nhiều việc làm tốt đẹp và rất nhiều sự hy sinh bản thân mẹ cho con cái.
Từ hình ảnh mẹ ngồi cặm cụi đến dáng gầy gánh nặng và sâu hơn nữa là những cảm nhận về mẹ với sự chắt chiu dành dụm, gian nan vất vả cả đời, cùng với
đắng cay mẹ nhận, ngọt bùi mẹ cho. Thậm chí vì con mà mẹ chịu trời vò quanh năm vv…Đặc biệt là trong phần cuối, tác giả có câu xe tơ kéo kén nhả tằm (đây là nói về một vòng tằm theo chiều ngược lại). Dường như đó là sự sắp đặt muốn nói rõ hơn là mỗi chúng ta óng vàng đẹp đẽ được sinh ra từ mẹ và những hy sinh vất vả của mẹ quả là vô giá và cuối cùng là mẹ vĩ đại như thế nên chúng ta cứ muốn mãi mãi là trẻ thơ bên mẹ. Bài thơ nói về thăm mẹ sao mà đằm thắm và thiết tha.
Trong phần nói về những đoạn thơ hay, câu thơ hay giờ đây đã tăng lên nhiều lắm. Dường như mỗi tác giả, mỗi bài thơ đều có những đoạn thơ, những câu thơ không thua gì những nhà thơ chuyên nghiệp. Trong một thời gian quá ngắn chắc sẽ không thể nói hết được. Dưới đây chỉ xin điểm qua một số đoạn, một số câu để chúng ta cùng thấy kết quả mà nhiều ngày nhiều tháng “đời tằm rút ruột nhả tơ”.
        Những câu thơ hay bắt gặp đầu tiên đó là hai cặp thực và kết trong bài Lỗi hẹn của Đào Công Chín. Trong đó cặp thực với

Anh chờ vạt nắng rơi vàng hạ/
Em đợi vầng mây nhuộm tím đông.

Đó là nắng tươi vui rực rỡ cùng với ước mơ kết đôi đẹp đẽ thỏa nguyện và sắc mây trời tím màu chung thủy khi đôi lứa vẫn còn trong mộng tưởng.
        Còn với cặp kết:

Một lời lỗi hẹn sầu muôn thuở/
Đò vắng chiều tàn trắng bến sông

Ý thơ đã hoàn toàn đổi khác. Cùng với sự lỗi hẹn là hình ảnh chiều tàn lụi và bến sông cũng trắng màu tang tóc của tình yêu đã chết trong lòng.
        Hay là bài Ký ức của Nguyễn Xuân Nghiệp cứ như cắt ra từng nét một mỗi thời gian, mỗi không gian gửi vào tâm sự để rồi

Xao xuyến vườn xưa trăng khuyết lạnh/
Bồi hồi bến cũ nước vơi đầy.

Vườn lạnh, cả trăng cũng lạnh và nước cũng phập phồng thì lòng người hỏi sao không bồi hồi xao xuyến.
        Để nói về cái tình với thơ cụ Trần Phao đã phải thốt lên trong bài Nàng thơ:

Nghe tiếng gà trưa buồn khắc khoải/
Nhìn làn mây muộn nhớ vu vơ.

Nỗi nhớ cùng với sự mong đợi khéo để cho tiếng gà trưa trở thành lạc lõng và nỗi buồn đến khó chịu khi cái điều ta mong chẳng thấy còn đám mây muộn mằn kia bay đây, bay đó tựa như trêu cợt gợi thêm nỗi phiền muộn trong lòng
        Có một bài thơ ngắn của người nhiều tuổi nhất nhì trong tổ lại hướng đến một nội dung khá độc đáo trong cuộc sống đó là bài Quạ chuột của cụ Nguyễn Bá Huyên. Với 6 câu lục bát:

Quạ nào quạ cũng bắt gà/
Chuột nào chuột cũng khoét nhà moi bao/
Xua quạ quạ lại bay cao/
Đuổi chuột chuột lại chui vào hang sâu/
Có trời có đất đỡ đầu/
Cho nên Quạ  - Chuột đâu đâu cũng nhiều.

Các câu thơ bình dị là thế nhưng đã chỉ mặt đặt tên hai loài trộm cắp và đục khoét, đồng thời cũng kể rõ chúng chẳng sợ ai là bởi chúng có quan thầy bợ đỡ.
        Có một bài thơ mang dáng dấp thơ của cả Nguyễn Bính và Hàn Mặc Tử đó là bài Đồng lúa quê nhà của Phan Hộ:

Hôm nay có dịp về thăm đồng
Nắng vàng sóng lúa nặng trĩu bông
Nhà nhà vào vụ vui gặt hái
Vắng cô làng bảo "Cô sang sông"

Vụ cấy năm nay vắng thiếu cô
Sóng nước buồn thiu gió hững hờ
Cô đã xuống đò về quê mới
Để đồng trống vắng nắng ngẩn ngơ…

     Một bài thơ ngắn nữa với đầu đề Mắt buồn của Nguyễn Xuân Cảnh:
Mắt em buồn bởi vì ai?
Để lòng anh cũng u hoài buồn theo/
Trời xuân vương sợi nắng chiều/
Vắt ngang nối nhớ cánh diều nghiêng chao/
Tâm tình chưa kịp gởi trao/
Xa rồi Bạch Hạc, sông Thao hỡi người.
Điều muốn nói ở đây là những hình, những ảnh hiện lên lung linh và huyền ảo. Em là ai và anh là ai khiến nắng, khiến sông, khiến diều và cả miền Bạch Hạc cùng với Sông Thao cũng dạt dào sống động. Bài thơ nói về một miền quê mà tựa như nói với người thương vây.
        Chỉ là một bài thơ họa những cái thần thức của nó dường như là chính đề của tác giả vậy. Bài thơ có các cặp đối thật đẹp và thật chỉnh. Đó là bài Lỗi hẹn của Bùi Viết Thinh

Anh thắp trong em ngọn lửa lòng
Ông tơ bà nguyệt chỉ se không
Trầu xanh ướm hỏi chờ đầu hạ
Cau biếc lời trao đợi cuối đông
Những tưởng thuyền tình về bến đậu
Nào hay thác ngược chẳng theo dòng
Non thề biển hứa duyên không bén
Đò cắm sào chờ thẹn với sông

Với cặp thực   
      
                              Trầu xanh ướm hỏi chờ đầu hạ/ 
                              Cau biếc lời trao đợi cuối đông 

ta như thấy hai vế đối được sắp đặt vượt qua cái ngưỡng của sự hoàn chỉnh. Tuy nhiên điều đáng nói là cặp kết được chắt ra hình ảnh về một con đò không chuyển động để dòng sông cũng lặng lẽ theo
Để rồi ta như thấy một nỗi buồn vô hạn
Nỗi buồn đến độ như chết lặng đi trong tâm khảm, trong khung cảnh và trong thơ của người trong cuộc. Buồn đến chết vì những gì mà nhân vật trong thơ đã mất mát…




ĐIỂM THƠ CÔN SƠN 84
                         
Hương thơ Côn Sơn số 84 vừa phát hành đã có 50 tác giả tham gia. Trong đó có 120 tác phẩm, 12 tác phẩm thơ dịch và thơ Đường luật xướng họa. Bìa mầu với cảnh hồ Côn Sơn đã khắc họa một hình ảnh đẹp của quê hương Chí Linh Bát cổ. Phần trình bày các trang in khá đẹp và sáng sủa, nhất là các lỗi in ấn đã giảm nhiều. Nếu cứ duy trì được phong độ này chắc hẳn là mọi người đều phấn khởi và chắc sẽ có nhiều sáng tác hay hơn nữa.
 Về phần nội dung đa số các tác phẩm đã có chiều hướng vượt qua cái tôi ngày thường để đến với nhiều đề tài rộng mở hơn. Tuy nhiên để có cái tôi hiện đại thật không phải dễ. Có lẽ cái tôi thường ngày là quy luật chung của các nhóm thơ CLB với đặc trưng là muốn mở lòng cùng bè bạn và cụ thể hơn là muốn thổ lộ vui buồn để mong có sự sẻ chia tình cảm để rồi nhận được sự động viên của mọi người tự mình vui với những điều mình tâm đắc và rồi cũng từ niềm vui ấy mà ta mạnh khỏe, trẻ trung như những ngày nào, để quỹ thời gian cứ dài ra mãi.
Cũng như ước muốn chia sẻ tình cảm trong thời hiện tại, một ước muốn khác nữa là sự hoài niệm quá khứ, tìm lấy những gì là vinh quang tốt đẹp và cả tìm lấy những mất mát đau buồn mà ta từng lưu luyến để rồi lòng ta đằm thắm hơn và nhân ái hơn trong cuộc sống, trong cư xử với con cháu, với bạn bè đồng chí.
Ngoài những chủ đích trên, các tác giả cũng đã hướng đến tầm cao nội dung và nghệ thuật, nhất là đang có sự nảy nở, đi sâu vào một số thể loại thơ có quy cách chặt chẽ cùng với chiều sâu ngôn từ và hình ảnh, thay cho những đoạn văn vần kể lể.
Nếu như Hương thơ Côn Sơn số 83 còn có 60 % là văn vần dài lê thê thì Hương thơ Côn Sơn số 84 chỉ còn 30 % các bài như thế. Đây là một điều đáng mừng, tuy nhiên chủ đề của nhiều bài còn rất sơ sài và thường trùng lặp. Điều này hoàn toàn là lẽ tự nhiên không tránh khỏi của tất cả mọi người. Một điều cần nhấn mạnh thêm là đa số các bài chỉ có từng đoạn, từng câu hay, số bài có nội dung nghệ thuật trọn vẹn vẫn rất ít. Dưới đây xin điểm qua một số câu thơ và một số bài để chúng ta cùng thưởng thức.

                               I. NHỮNG BÀI THƠ VÀ CÂU THƠ HAY
Trước hết xin được điểm các bài thơ điển hình theo thứ tự nội san để các cụ tiện theo dõi. Bài đầu tiên xin được điểm qua là bài Tình thơ của Công Chín. Đây là một bài thơ họa theo thể Đường luật thất ngôn bát cú. Đã là thơ họa thì đa số là có đôi chỗ gượng một chút vì phải bám vần của bài xướng, tuy nhiên bài Tình thơ khá thuần và suôn sẻ. Nhưng điều quan trọng muốn nói đến là phép đối trong 2 cặp câu thực và luận rất chỉnh với nhịp điệu 4/3 hay như đó là:

Thêu vần lượm gió”
“Dệt tứ gom trăng”

Hoặc với cách vận dụng nhịp điệu 2/5 (kéo dài phần sau) khảng định một tâm ý.

“Lòng không quên muối mặn”
“Dạ vẫn nhớ gừng cay”

Đặc biệt hơn là việc lắp ghép được 2 vế đối “gừng cay / muối mặn” của câu ca dao rất quen thuộc thành 2 vế đối của thơ Đường. Phép đối, vận dụng được như thế này quả là tốt và dường như cũng còn rất hiếm gặp được.
Phần tiếp theo xin được nói về 2 bài lục bát của Lê Đình Tự. Bài thơ mượn trăng, mượn gió để nói về người. Lời thơ chỉ là những câu hỏi dung dị nhưng lại gây cảm xúc. Mới đọc thấy có dáng dấp của ca dao nhiều hơn, nhưng lại rất thơ. Tứ thơ khá phong phú và biểu cảm ở nhiều chiều. Đặc biệt là hai câu cuối với tư tưởng phóng khoáng mời nhau hết sức đẳm thắm, tha thiết vậy mà không dung tục vì sau dấu chấm cảm là một khảng định hãy giữ cho nhau, hãy giữ cho luân lý của cả một đời người. Cũng như bài thơ Hỏi gió, bài Hỏi mây cũng có mô tuýp ấy cùng với kết cấu của 2 câu cuối giống nhau để khắc họa rằng đây là một tứ thơ và đó chính là những bài thơ thực thụ.
Bài thơ Thu buồn của Trần Phao là một điển hình của cách vận dụng đưa thơ Đường luật vào mô phỏng hiện thực mang tính thời sự. Trái với nhiều tác giả chỉ toàn những vần thơ yếm thế buồn buồn, chan chán, bài thơ mang đến cho ta một cảm xúc thật cụ thể về một tai họa mà nhiều người, nhiều ngày qua muốn được chia sẻ. Nhất là hai câu kết giúp mỗi chung ta có nhận thức về một việc gì đó cần làm và chắc chắn rằng sự hưởng ứng sẽ là rất cao khi có một phong trào cần sự chia sẻ.
        Đã lâu lắm mới lại có bài thơ khen thơ đó là bài thơ Thơ cụ Vũ Bá Huyên của Nguyễn Dương Quất. Cụ Quất đã khen rằng: “Khen chê tế nhị vô cùng khéo”. Mà quả là khéo thật, bởi trong nội san đã có khá nhiều bài của cụ Huyên ở dạng này mà chúng ta đã được đọc. Trước hết cần phải định ba bài thơ của cụ Huyên là ba bài thơ Đường luật đúng với cả niêm luật và cấu tứ. Đặc biệt là các hình tượng đặc tả chân thực như:

Bốn chân lớn khỏe lại vòi dài,
Mắt dữ tai to tướng mạo oai

Hoặc như:

Cánh khỏe bay xa khắp địa cầu,
Mắt tinh móng sắc mỏ vàng câu
Chân gầy mỏ nhọn mắt tinh nhanh vv

        Cùng với những tác phong hành động chính xác như:

phá gỗ đều dùng cẳng,
bắc cầu chỉ lấy vai/

hay như:

nhào tha gáy, lượn móc hầu
moi thun thút, móc sạch sanh vv…

        Từ những nét nghệ thuật cơ bản đó bài thơ trở nên sống động. Đặc biệt là khá nhiều từ ngữ gợi cảm siêu việt mà mỗi bài đều bao hàm được sự điển hình về chân thiện mỹ, đặc biệt là chữ thiện được nhấn mạnh rất cao.
Nếu như bài Con voi nhắn nhủ rằng hỡi những kẻ to lớn mạnh khỏe, các ngươi đừng nghĩ rằng ngươi là bất khả xâm phạm. Cứ nhìn như voi kia sợ kiến mà tự khuyên mình bơn bớt hống hách đi.  
Hay như bài Con diều hâu thì cụ lại dặn rằng: Đừng cậy mình có lắm thủ đoạn ác hiểm quen áp chế và giết hại kẻ khác mà rồi có ngày sẽ gặp người có sức mạnh hơn “nện vỡ đầu” đấy.
Còn bài thứ ba thì lại đề cập đến thói quen của hai loài chim mà phân ra loài tốt và loài xấu. Nếu tốt thì tốt ở chỗ nào, còn loài nào xấu và xấu ở chỗ nào. Tuy nhiên đó chẳng qua là muốn nhắn nhủ rằng người đời chỉ ưa những người cần mẫn giúp ích cho mọi người, còn thì chúa ghét những kẻ lưu manh chỉ vì cái ích lợi của mình, cướp công người khác.
        Bài Nhớ thu của Nguyễn khắc Lương khá điển hình với sự tưởng tượng:

Chợt đâu gió động lay rèm,
Giật mình vội tưởng bước em lại nhà
Ngỡ rằng ta được gặp ta,
Có hương em bỗng hơi nhà ấm lên.

Gọi là nhớ thu mà hóa ra là nhớ người. Nỗi nhớ đã vượt qua cả nỗi nhớ của Kiều và Kim Trọng. Bởi chỉ tưởng tượng ra thôi mà đã thấy, đã nghe được tiếng bước chân và cả ngửi được mùi hương nữa. Nhớ nhau có lẽ cũng đến thế là cùng…
        Bài Nằm viện rút đinh của Nguyễn Văn Huy là một bài thơ mang tính giãi bày là chính. Tuy nhiên chất thơ lại hiển hiện ở tính hài hước rất trẻ cho dù cụ Huy khá nhiều tuổi.
Cụ hài hước nói về sự thấp thỏm lo lắng về cái đinh nằm trong tay mình như một con vật đáng gớm cần phải được lấy ra mới thực là hết bệnh:

Gần một năm đinh trong tay mình,
Lòng thấp thóm đã lo laị sợ”

Và rồi cả cười và thật thỏa mãn:
“Khỏi rồi ra viện lòng nhẹ tênh”.
        Bài Trách nhau của Nguyễn Thanh Lịch nói về Ngâu nhưng thực ra chỉ tựa vào ngâu để tỏ lòng mình. Điều muốn tỏ ở đây là: Nhớ nhau đứt ruột sùi da” mà vẫn phải nuốt nước mắt vào trong và rồi ngấm ngầm đau mà so bì mà trách cái điều không đáng trách:

 “Mỗi năm chỉ gặp một lần,
Ngàn năm được cả ngàn phần đó thôi
Thế là mãn nguyện lắm rồi,
Có người trần thế suốt đời còn không”.

        Đấy mới là đau, đấy mới là thương nhớ…!
        Người xưa vẫn thường cảm từ tâm hồn ra cảnh: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” và cũng lại cảm từ cảnh vào tới tâm hồn “Đôi khi cảnh cũng chiều người” và có lẽ vì như thế nên Đò Mây của Nguyễn Quang Thái mới có câu:

                                    “Bao lần qua bến Đò Mây,
                                     Nhớ người quê ở nơi này làm thơ”

        Bài thơ với thủ pháp ngôn ngữ cũng như nhiều bài thơ khác tuy nhiên bài thơ lại có một trường rộng lớn đó là dòng sông, bến nước, con đò làm nền cho nó để rồi từ đó ta có bao điều suy ngẫm. Đó chính là từ bến sông này có bao cuộc yêu cách trở, từ bến sông này suốt một đời thương nhớ
        Đến với loạt bài thơ bốn câu của Nguyễn Xuân Cảnh ta lại gặp khá nhiều mảng tư tưởng.  Trong bài Tiếng mõ muốn khuyên người đã dám tìm đến với đạo
Đã quen vừng béo, lạc bùi” thì nên bớt nghĩ về đời Hãy quên mơ mận, mía lùi ngày xưa”. Bởi nhân bản vốn dĩ hiện hữu rất khó để vượt qua…
        Đến với loạt bài của Lương Bông ta nhận ra ngay Bão lòng của tác giả qua một loạt các câu thơ vừa khát khao lại vừa đằm thắm. Dẫu chỉ là thống kê những bài thơ của bạn nhưng khó có thể không đồng cảm đó là:

Kỷ niệm xưa vẫn hữu hình,
Như ngàn “hoa nắng” sân đình tuổi thơ
Tất niên thời khắc đợi chờ,
“Rượu còn chưa nhắp” đã lờ mờ say,
Lửa lòng ấp ủ bấy nay
“Khát” khao “rạo rực tim gầy” nơi em

và cuối cùng là: 
                                    “Biển Thịnh Long” vẫn dịu êm, 
                                    Phải lòng nhau bởi chưa quen bao giờ

        Nghĩa là mới chỉ biết qua thơ mà đã say đến thế thì thật khó có tình nào sánh nổi.
        Lại có thêm một bài thơ Đường luật tả tình của tác giả Bùi Viết Thinh Cung đàn lỡ nhịp. Đây là một bài thơ khắc họa về thơ và bạn. Thức để làm thơ mà “mãi chưa tìm được tứ thơ” thế rồi từ thơ sang nhớ bạn và có lẽ nhớ bạn mới là chủ ý của của tác giả. Chả thế mà:

“Bâng khuâng nhớ bạn chân trời mộng,
Khắc khoải chờ ai góc biển mơ”.

                                        II. NHỮNG CHỦ ĐỀ THỜI SỰ
        Đây là phần đặt tên do tác giả bài viết tự đặt ra do mảng thơ này gắn bó nhiều hơn với các sự kiện có thể là của riêng từng tác giả cũng có thể nói về cái chung nhưng rất rõ nét. Đặc điểm của các bài thơ này là thông qua những nội dung cụ thể mà cảm nhận và lấy đó là mục tiêu sáng tác, gắn nó với ý nghĩa cụ thể qua đó tác động đến độc giả thông qua bài học về chân và thiện.
          Bài đầu tiên là sáng tác của Đoàn Mạnh Linh với bài Có một mùa thu. Đây là bài thơ viết về nỗi tiếc thương của nhân dân Việt Nam trước sự ra đi của Bác Hồ qua các câu thơ: 

                                     “Ai nấy mím môi đau nuốt lệ/ 
                                      Đôi mi tràn ứa nước tuôn rơi”. 

Mỗi câu thơ tựa như thêm một lần nữa khắc họa những hình ảnh xúc động cho đến hôm nay vẫn như còn nguyên cái không khí tang tóc đau thương ngày ấy.
          Một bài thơ khác của Vũ Ngọc Doanh Bài ca không quên lại nhắc đến công lao của Đảng và thực sự hơn hết là sự hy sinh của những anh hùng liệt sĩ cho dân tộc, cho non sông đất nước.
          Cũng với đề tài nói về thương binh liệt sĩ Nguyễn Văn Viên lại viết về một kỷ niệm yêu thương với một nữ chiến sĩ qua bài Viếng liệt sĩ. Bài thơ kể cả cái sự hò hẹn “Nguyện lòng Vân bảo làm dâu Bắc” và có lẽ vì thế mà tác giả như muốn kêu lên cho vợi nỗi đau “Thương quá em ơi – sớm mộ nằm”
          Với Phan Hộ trong bài Người con gái sông Lam thì dài hơi hơn một chút để kể về sự hy sinh của người yêu trong khi cứu thuyền chở thương binh. Cho dù là chuyện kể nhưng từng câu từng chữ đều khắc họa những nỗi đau vô cùng vô hạn.
          Nguyễn Duy Hồng với bài Đón anh về cùng có chủ đề viết về liệt sĩ. Bài viết nói về việc đưa hài cốt các liệt sĩ về làng và nỗi xúc động của người thân, làng xóm “Anh em tràn nước mắt vui, Họ hàng, làng xóm bùi ngùi đón anh”. Đặc biệt là những câu thơ nói về sự khảng khái của những người chiến sĩ “Vì dân vì nước bước dồn, Máu xương hòa đất, tâm hồn vẹn nguyên”. Đồng thời cũng khảng định sự hy sinh của liệt sỹ là thiêng liêng cao cả và luôn được trân trọng “Các anh sống mãi tuổi xuân, Tri ân liệt sỹ nhớ ơn muôn đời”
     Về đề tài thương binh liệt sĩ có khá nhiều trong nội san kỳ này đặc biệt là bài thơ Biết ơn của cụ Vũ Như Bão viết trong khi đi viếng Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn có nhiều nét rất mới. Từ hình ảnh ngôi mộ thẳng hàng nằm đó được tác giả mô tả như sự trang nghiêm của đội ngũ những người chiến sĩ sắp xông ra trận, sẵn sàng xông lên giết giặc Như trong đội ngũ nghiêm trang, Như trong thế đứng sẵn sàng xông lên”. Thêm một lần nữa khảng định mọi người sẽ không bao giờ quên sự hy sinh của những người chiến sĩ “Ngàn năm dân tộc không quên, Anh hy sinh để khắc thiên sử vàng”

                                      III. THƠ ĐƯỜNG LUẬT
     Phần xướng họa thơ Đường luật kỳ này với bài xướng Trăng thu của Nguyễn Xuân Ngọc và 10 bài thơ họa của các tác giả trong CLB. Về bài xướng tác giả NXN đã lấy mùa thu và ánh trăng làm chủ đề, đó là thu với “Hương dẻ nồng nàn vàng gió núi, Trái hồng lúng liếng đỏ hiên nhà” còn có cả trăng qua các câu từ “Trời trong vằng vặc ánh trăng ngà” hay như “Chị Hằng ngơ ngẩn xem quỳnh nở” thì cũng vẫn là trăng. Có điều lạ hơn cả là câu kết lại viết “Thi nhân sao nỡ bảo trăng già”. Thi nhân hoặc có thể là bất kỳ một người nào đó trong cảnh ấy, trong không gian ấy chỉ có một chữ già xuất hiện.
     Cũng đã có lần trăng già xuất hiện trong mắt một thi sĩ đang say và rồi cũng đã có với một câu kết “Trăng già lọm khom qua ngang cửa, sao chẳng vào thăm để chén vơi”
     Còn về các bài họa, các tác giả cũng đã có nhiều cố gắng họa lại với nội dung khá phong phú. Trong mười bài họa người viết  cũng đã chọn trong sở thích với hai bài đó là:  bài Hương thu của Nguyên Đào và bài Ngắm trăng của Đào Công Chín. Đây là những bài xử lý khá tốt với vần Ngà. Tuy đây không phải là một vần hiếm, nhưng văn cảnh ghép trăng với ngà thì lại không có nhiều câu suôn sẻ.
     Tuy nhiên cụ Nguyên Đào đã viết: Heo may xào xạc ngọn tre ngà” còn Đào Công Chín thì viết “Trăng soi mặt nước trắng như ngà”. Những câu thơ hết sức suôn sẻ không hề có sự gượng ép nào.
     Các cặp câu thực của hai bài thơ trên đều bám vào ý của bài xướng đó là gợi cảnh thu qua cỏ cây hoa trái “Mấy đóa phù dung vờn trước ngõ, Vài bông thiên lý rủ bên nhà” hoặc như “Hương bưởi nồng nàn vương trước ngõ
Hoa cau ngan ngát tỏa quanh nhà”
     Còn với câu luận thì đều bám vào hình ảnh của trăng “Say nhìn chú Cuội mơ tiên nữ
Mải ngắm chị Hằng mộng Tố Nga” hoặc như “Muốn lên cung quế thăm chàng Cuội, Mong tới Quảng Hàn ngắm Tố Nga”. Với câu cuối “Vườn xưa trở lại gốc mai già” hoặc như “Mà sao xinh đẹp mãi không già”. Các tác giả trên cũng vẫn giữ được sự suôn sẻ và vẫn không hề có chút gượng ép.

     Riêng phần nhận xét kỳ này cũng còn bỏ sót nhiều bài thơ hay và câu thơ hay chưa dẫn ra được. Rất mong các các giả thông cảm vì khuôn khổ và khả năng có hạn của người nhận xét. Rút kinh nghiệm tốt hơn trong kỳ tới.
                                                                            
                                                                     TM. BAN BIÊN TẬP
                                                                          Lê Trọng Hồng



      

















































Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét